Thiên nhiên
Loài chim trong Kinh Thánh
38 đoạn của Kinh Thánh (Bản Truyền Thống 1925), từng dòng một, theo Nave’s Topical Bible.
- Chim được dựng nên cùng các loài dưới nước vào ngày thứ nămSáng 1:20–23
Các câu
Sáng 1:20–23Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời. Đức Chúa Trời dựng nên các loài cá lớn, các vật sống hay động nhờ nước mà sanh nhiều ra, tùy theo loại, và các loài chim hay bay, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành. Đức Chúa Trời ban phước cho các loài đó mà phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy sanh sản trên đất cho nhiều. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ năm.
- Sau nước lụt, chim cũng được ban làm đồ ănSáng 9:2–3
Các câu
Sáng 9:2–3Các loài vật ở trên đất, các loài chim trời, và các vật hành động trên đất, cùng các cá biển, đều sẽ kinh khủng ngươi và bị phú vào tay ngươi. Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh.
- Y-sơ-ra-ên được ăn mọi con chim sạchPhục 14:11
Các câu
Phục 14:11Các ngươi được ăn mọi con chim sạch.
- Không được ăn: chim ưng, kên kên, quạ, đà điểu, cú, cò, diệc, chim rẽ quạt, dơiLê 11:13–19
Các câu
Lê 11:13–19Trong các loài chim, những giống các ngươi phải cầm bằng gớm ghiếc, không nên ăn, là chim ưng, chim ngạc, ó biển; chim lão ưng và con diều, tùy theo loại chúng nó; các thứ quạ, chim đà điểu, chim ụt, chim thủy kê, chim bò cắc và các loại giống chúng nó; chim mèo, chim thằng cộc, con cò quắm, con hạc, chim thằng bè, con cồng cộc, con cò, con diệc và các loại giống chúng nó; chim rẽ quạt và con dơi.
- Chim ở bên các suối và hót giữa nhánh câyThi 104:12
Các câu
Thi 104:12Chim trời đều ở bên các suối ấy, Trổi tiếng nó giữa nhánh cây.
- Con cò dùng cây tùng làm chỗ ởThi 104:17
Các câu
Thi 104:17Là nơi loài chim đóng ổ nó; Còn con cò, nó dùng cây tùng làm chỗ ở của nó.
- Mùa xuân nghe tiếng chim cu gáyNhã 2:12
Các câu
Nhã 2:12Bóng hoa nở ra trên đất; Mùa hát xướng đã đến nơi, Và tiếng chim cu nghe trong xứ;
- Chim hạc, chim cu, chim yến, chim nhạn giữ kỳ dời chỗ ởGiê 8:7
Các câu
Giê 8:7Chim hạc giữa khoảng không tự biết các mùa nhất định cho nó; chim cu, chim yến, chim nhạn, giữ kỳ dời chỗ ở. Nhưng dân ta chẳng biết luật pháp của Đức Giê-hô-va!
- Đà điểu để trứng dưới đất cho cát ủ nóngGióp 39:14–15
Các câu
Gióp 39:14–15Vì nó để trứng mình dưới đất, Vùi nóng trứng ấy nơi bụi cát, Quên rằng có lẽ chân người bước nát nó, Hoặc con thú đồng giày đạp nó đi chăng.
- Đà điểu đập cánh, nhạo báng ngựa và người cỡiGióp 39:18
Các câu
Gióp 39:18Khi nó đập cánh bay lên, Bèn nhạo báng ngựa và người cỡi ngựa.
- Con diều sè cánh về hướng namGióp 39:26
Các câu
Gióp 39:26Có phải nhờ sự khôn ngươi mà con diều vùng bay đi, Và sè cánh nó về hướng nam?
- Chim sẻ bán hai con một đồng, hay năm con hai đồngMat 10:29, Lu 12:6
- Chim sẻ và chim én làm tổ gần bàn thờ đền thờThi 84:3
Các câu
Thi 84:3Hỡi Đức Giê-hô-va vạn quân, là Vua tôi và là Đức Chúa Trời tôi, Con chim sẻ đã tìm được một nơi ở, Và chim én tìm được một ổ đặng đẻ con nó, Tức là bàn thờ của Chúa.
- Chim chẳng gieo, chẳng gặt, chẳng thâu trữ vào khoMat 6:26
Các câu
Mat 6:26Hãy xem loài chim trời: chẳng có gieo, gặt cũng chẳng có thâu trữ vào kho tàng, mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó. Các ngươi há chẳng phải là quí trọng hơn loài chim sao?
- Chim làm ổ trên nhánh cây cải đã lớnMat 13:32
Các câu
Mat 13:32hột ấy thật nhỏ hơn cả các giống khác, song khi đã mọc lên, thì lớn hơn các thứ rau, và trở nên cây cối, cho đến nỗi chim trời tới làm ổ trên nhành nó được.
- “Con cáo có hang, chim trời có ổ”Mat 8:20
Các câu
Mat 8:20Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu.
- Mọi loài chim đã bị loài người trị phụcGia 3:7
Các câu
Gia 3:7Hết thảy loài muông thú, chim chóc, sâu bọ, loài dưới biển đều trị phục được và đã bị loài người trị phục rồi;
- Sa-lô-môn luận về thú vật, chim chóc, loài bò sát và cá1 Vua 4:33
Các câu
1 Vua 4:33Người luận về cây cối, từ cây bá hương của Li-ban cho đến chùm kinh giới mọc ra nơi vách; người cũng có luận về loài vật, chim, loài công trùng, và cá.
Trong các câu chuyện
- Bò câu của Nô-ê trở về ngậm lá ô-li-ve mới háiSáng 8:8–12
Các câu
Sáng 8:8–12Người cũng thả một con bò câu ra, đặng xem thử nước hạ bớt trên mặt đất chưa. Nhưng bò câu chẳng tìm được nơi nào đáp chân xuống, bèn bay trở về trong tàu cùng người, vì nước còn khắp cả trên mặt đất. Nô-ê giơ tay bắt lấy bò câu, đem vào tàu lại với mình. Đoạn, người đợi bảy ngày nữa, lại thả bò câu ra khỏi tàu; đến chiều bò câu về cùng người, và nầy, trong mỏ tha một lá Ô-li-ve tươi; Nô-ê hiểu rằng nước đã giảm bớt trên mặt đất. Người đợi bảy ngày nữa, thả bò câu ra; nhưng chuyến nầy bò câu chẳng trở về cùng người nữa.
- Chim ăn thịt sà xuống các con thú của Áp-ram, và ông đuổi điSáng 15:10–11
Các câu
Sáng 15:10–11Áp-ram bắt đủ các loài vật đó, mổ làm hai, để mỗi nửa con mỗi bên đối với nhau, nhưng không mổ các loài chim ra làm hai. Có những chim ăn mồi bay đáp trên mấy con thú chết đó, song Áp-ram đuổi nó đi.
- Chiều lại, chim cút phủ trên trại quânXuất 16:13
Các câu
Xuất 16:13Vậy, chiều lại, có chim cút bay lên phủ trên trại quân; đến sáng mai lại có một lớp sương ở chung quanh trại quân.
- Chim cút được gió đưa từ biển vào; không ai lượm ít hơn mười ô-meDân Số 11:31–32
Các câu
Dân Số 11:31–32Đức Giê-hô-va bèn khiến một trận gió nổi từ biển, dẫn những chim cút đến vải trên trại quân và xung quanh, bên nầy trải ra dài chừng một ngày đường đi, và bên kia trải ra dài chừng một ngày đường đi, khỏi mặt đất chừng hai thước bề cao. Dân sự đứng dậy lượm những cút trong ngày đó, đêm đó và trọn ngày sau; ai lượm ít hơn hết có mười ô-me; người ta căng nó khắp chung quanh trại quân.
- Gà vịt nuôi mập cho bàn ăn Sa-lô-môn; gà vịt mỗi ngày cho bàn Nê-hê-mi1 Vua 4:23, Nê-hê 5:18
Các câu
1 Vua 4:23mười con bò mập, hai mươi con bò nơi đồng cỏ, và một trăm con chiên, không kể nai đực, hoàng dương, cà tong, và vịt gà nuôi mập.
Nê-hê 5:18Vả, người ta dọn ăn cho mỗi ngày một con bò, sáu con chiên chọn lựa; người ta cũng dọn những gà vịt, và mỗi mười ngày đủ các thứ rượu rất nhiều. Dầu như vậy, tôi cũng không đòi lương lộc của phần tổng trấn, vì công dịch lấy làm nặng nề cho dân sự này.
- Gà gáy khi Phi-e-rơ chối JêsusMat 26:74–75
Các câu
Mat 26:74–75Người bèn rủa mà thề rằng: Ta không biết người đó đâu! Tức thì gà gáy. Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần. Đoạn, người đi ra và khóc lóc cách đắng cay.
Trong Luật pháp
- Lấy chim con trong ổ, nhưng phải thả chim mẹ điPhục 22:6–7
Các câu
Phục 22:6–7Khi ngươi gặp ngoài đường, hoặc ở trên cây, hoặc ở dưới đất, một ổ chim với con hay là trứng, mẹ đang ấp con hay là trứng, thì chớ bắt chim mẹ luôn với chim con. Phải để cho chim mẹ đi, bắt con cho phần mình, để ngươi được phước và sống lâu.
- Lễ tẩy sạch bệnh ngoài da: hai con chim, một con được thả ra đồngLê 14:4–7
Các câu
Lê 14:4–7thì về phần người phải được sạch, thầy tế lễ sẽ truyền đem hai con chim vẫn sống và tinh sạch, cây hương nam, màu đỏ sặm và nhành kinh giới. Thầy tế lễ biểu cắt cổ một trong hai chim đó trong chậu sành, trên nước chảy. Đoạn, bắt lấy chim còn sống với cây hương nam, màu đỏ sặm, nhành kinh giới, đem nhúng trong huyết của chim kia đã cắt cổ trên nước chảy. Thầy tế lễ phải rảy huyết bảy lần trên người được sạch phung, và định người là tinh sạch, rồi thả con chim còn sống ra ngoài đồng.
- Cho con trẻ Jêsus: một cặp chim cu hoặc hai con bò câu conLu 2:22, Lu 2:24
Lời dạy về bẫy chim
- “giăng lưới ra trước mặt các loài có cánh lấy làm luống công thay”Châm 1:17
Các câu
Châm 1:17Vì giăng lưới ra trước mặt các loài có cánh Lấy làm luống công thay;
- “Con chim, nếu chẳng có bẫy gài để bắt nó, thì nó há sa vào trong lưới giăng ra trên đất sao?”A-mốt 3:5
Các câu
A-mốt 3:5Con chim, nếu chẳng có bẫy gài để bắt nó, thì nó há sa vào trong lưới giăng ra trên đất sao? Bằng chẳng bắt được gì thì lưới há có dựt lên khỏi đất?
- “như chim thoát khỏi rập kẻ đánh chim”Thi 124:7
Các câu
Thi 124:7Linh hồn chúng ta thoát khỏi như chim thoát khỏi rập kẻ đánh chim; Rập đã dứt, chúng ta bèn thoát khỏi.
- Như chim phải bẫy dòTruyền 9:12
Các câu
Truyền 9:12Lại, loài người chẳng hiểu biết thời thế của mình: như cá mắc lưới, chim phải bẫy dò thể nào, thì loài người cũng bị vấn vương trong thời tai họa xảy đến thình lình thể ấy.
Những lời khác
- “Giống như chim bay đây đó khỏi ổ nó vậy”Châm 27:8
Các câu
Châm 27:8Kẻ lưu lạc xa cách nơi ở của mình, Giống như chim bay đây đó khỏi ổ nó vậy.
- Nhà đầy dối trá “như lồng đầy chim vậy”Giê 5:27
Các câu
Giê 5:27Nhà chúng nó đầy sự dối trá, cũng như lồng đầy chim vậy, vì đó chúng nó trở nên lớn và giàu.
- “Chim sẻ hiu quạnh trên mái nhà”Thi 102:7
Các câu
Thi 102:7Tôi thao thức, tôi giống như Chim sẻ hiu quạnh trên mái nhà.
- “Tôi rầm rì như chim hạc chim yến; gù như chim bò câu”Ê-sai 38:14
Các câu
Ê-sai 38:14Tôi rầm rì như chim hạc chim yến; gù như chim bò câu; mắt tôi nhìn trên cao nên nỗi mỏi. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi đang cơn sầu khổ, xin Ngài bảo lãnh tôi.
Nguồn
Theo Nave’s Topical Bible (Orville J. Nave, 1896; phạm vi công cộng): các đề tài được chọn lọc, các dòng được rút gọn và viết lại bằng lời hiện đại, bỏ các dòng giải nghĩa; mỗi câu đều được kiểm tra.
Kinh Thánh (Bản Truyền Thống 1925) · Phạm vi công cộng