Thiên nhiên
Chiên trong Kinh Thánh
38 đoạn của Kinh Thánh (Bản Truyền Thống 1925), từng dòng một, theo Nave’s Topical Bible.
- A-bên làm nghề chăn chiênSáng 4:2
Các câu
Sáng 4:2Ê-va lại sanh em Ca-in, là A-bên; A-bên làm nghề chăn chiên, còn Ca-in thì nghề làm ruộng.
- A-bên dâng chiên đầu lòng trong bầy mìnhSáng 4:4
Các câu
Sáng 4:4A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Đức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người;
- Áp-ra-ham thấy một con chiên đực sừng mắc trong bụi câySáng 22:13
Các câu
Sáng 22:13Áp-ra-ham nhướng mắt lên, xem thấy sau lưng một con chiên đực, sừng mắc trong bụi cây, bèn bắt con chiên đực đó dâng làm của lễ thiêu thay cho con mình.
- Người chăn lăn hòn đá khỏi miệng giếng để cho bầy uống nướcSáng 29:2–3
Các câu
Sáng 29:2–3Người nhìn xem, thấy một cái giếng trong đồng ruộng, gần đó có ba bầy chiên nằm nghỉ, vì nơi nầy là chốn người ta cho các bầy chiên uống nước. Hòn đá đậy trên miệng giếng rất lớn. Các bầy chiên đều hiệp lại đó, rồi họ lăn hòn đá trên miệng giếng ra, cho các bầy uống nước; đoạn, lăn đá lại chỗ cũ, đậy trên miệng giếng.
- Ra-chên là người chăn chiên; Gia-cốp cho bầy chiên của cha nàng uống nướcSáng 29:9–10
Các câu
Sáng 29:9–10Vả, đang lúc người còn nói chuyện cùng bọn đó, thì Ra-chên dắt bầy chiên của cha nàng đến, vì nàng vốn là người chăn chiên. Khi vừa thấy Ra-chên, con gái La-ban, cậu mình, thì người liền lại gần lăn hòn đá ra khỏi miệng giếng, cho bầy chiên của La-ban, cậu mình, uống nước.
- Bảy con gái Giê-trô cho bầy uống nước, và Môi-se giúp họXuất 2:16–17
Các câu
Xuất 2:16–17Vả, thầy tế lễ xứ Ma-đi-an có bảy con gái; các nàng đó đến giếng xách nước đổ đầy máng đặng cho bầy chiên cha mình uống. Nhưng các kẻ chăn chiên đến đuổi đi; Môi-se bèn đứng dậy, binh vực các nàng đó và cho những bầy chiên uống nước.
- Môi-se đang chăn bầy chiên của Giê-trô khi đến Hô-rếpXuất 3:1
Các câu
Xuất 3:1Vả, Môi-se chăn bầy chiên cho Giê-trô, ông gia mình, là thầy tế lễ tại xứ Ma-đi-an; dẫn bầy chiên qua phía bên kia đồng vắng, đến núi của Đức Chúa Trời, là núi Hô-rếp.
- Đa-vít, con út, đang ở ngoài chăn chiên1 Sa 16:11
Các câu
1 Sa 16:11Đoạn, Sa-mu-ên nói cùng Y-sai rằng: Hết thảy con trai ngươi là đó sao? Y-sai đáp rằng: Hãy còn đứa con út, nhưng nó đi chăn chiên. Sa-mu-ên nói: Hãy sai gọi nó; chúng ta không ngồi ăn trước khi nó đến.
- Gia-cốp chăn chiên: ban ngày nắng nồng, ban đêm lạnh lùng, mất con vì thú dữSáng 31:38–40
Các câu
Sáng 31:38–40Kìa, đã hai mươi năm tôi ăn ở nơi nhà cậu, chiên cùng dê cậu nào có sảo thai, và tôi chẳng hề ăn thịt chiên đực của bầy cậu bao giờ; cũng chẳng hề đem về cho cậu một con nào bị xé; bằng có, chính tôi chịu đền đó thôi. Cậu cớ đòi luôn những con bị ăn cắp ban ngày và ăn trộm ban đêm. Ban ngày tôi chịu nắng nồng, ban đêm chịu lạnh lùng, ngủ nào có an giấc được đâu.
- Tiền công của Gia-cốp: các con có rằn, có đốm và có sắc đenSáng 30:32
Các câu
Sáng 30:32Ngày nay tôi sẽ đi kiểm soát các bầy chiên và bầy dê của cậu; trong bầy chiên bầy dê, hễ con nào có rằn, có đốm, cùng chiên sắc đen, thì tôi sẽ để riêng ra; ấy sẽ là phần công giá của tôi đó.
- Những nhánh cây lột vỏ bên máng nước và những con có sọcSáng 30:37–39
Các câu
Sáng 30:37–39Đoạn, Gia-cốp lấy nhành bạch dương, nhành bồ đào và nhành bá-tiên tươi, lột vỏ để bày lằn da trắng ở trong ra. Người để những nhành đã lột vỏ trong máng trước mặt con chiên, là nơi các thú đó đến uống; khi đến uống nước thì con chiên có giao hiệp nhau. Các con chiên ngó thấy những nhành đó mà giao hiệp nhau thì sanh chiên con có sọc, có rằn và có đốm.
- Người chăn thức đêm canh giữ bầy chiênLu 2:8
Các câu
Lu 2:8Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên.
- Chiên nghe tiếng người chăn; người kêu tên từng conGiăng 10:3–4
Các câu
Giăng 10:3–4Người canh cửa mở cho, chiên nghe tiếng người chăn; người chăn kêu tên chiên mình mà dẫn ra ngoài. Khi người đã đem chiên ra hết, thì đi trước, chiên theo sau, vì chiên quen tiếng người.
Lông, sữa và mùa hớt lông
- Sữa chiên, mỡ chiên con và chiên đực Ba-sanPhục 32:14
Các câu
Phục 32:14Và nút mỡ sữa bò và sữa chiên. Ngài ban cho người mỡ chiên con, Chiên đực sanh tại Ba-san, và dê đực, Cùng bột lọc nhất hạng của lúa mạch; Người có uống huyết của nho như rượu mạnh.
- La-ban đi hớt lông chiên khi Ra-chên lấy các pho tượngSáng 31:19
Các câu
Sáng 31:19Trong lúc La-ban mắc đi hớt lông chiên người, thì Ra-chên ăn cắp các pho tượng thờ trong nhà của cha mình.
- Giu-đa lên Thim-na với những thợ hớt lông chiênSáng 38:12–13
Các câu
Sáng 38:12–13Ngày qua tháng lại, con gái của Su-a, vợ Giu-đa, qua đời. Khi đã nguôi lòng, thì Giu-đa đi cùng bạn là Hi-ra, người A-đu-lam, lên đến nơi mấy thợ hớt lông chiên mình, tại Thim-na. Người ta cho nàng Ta-ma hay điều đó mà rằng: Nầy, ông gia ngươi đi lên Thim-na đặng hớt lông chiên.
- Na-banh có 3.000 chiên và 1.000 dê, hớt lông tại Cạt-mên1 Sa 25:2
Các câu
1 Sa 25:2Vả, có một người ở Ma-ôn, còn sản nghiệp nó thì ở Cạt-mên. Người rất giàu, có ba ngàn chiên, và một ngàn dê; người đang ở Cạt-mên đặng hớt lông chiên mình.
- Mùa hớt lông là dịp đãi tiệc: tiệc của Na-banh và của Áp-sa-lôm1 Sa 25:11, 1 Sa 25:36, 2 Sa 13:23–24
Các câu
1 Sa 25:11Lẽ nào ta sẽ lấy bánh, nước, và thịt ta dọn sẵn cho các thợ hớt lông chiên mà cho những kẻ chẳng biết ở đâu đến sao?
1 Sa 25:36Khi A-bi-ga-in trở về cùng Na-banh, thì Na-banh đang ăn tiệc trong nhà mình, thật như yến tiệc của vua vậy. Na-banh có lòng vui vẻ và say lắm. A-bi-ga-in không tỏ cho người biết điều gì hoặc cần kíp hay chăng, cho đến khi sáng.
2 Sa 13:23–24Cách hai năm sau, đang lúc Áp-sa-lôm hớt lông chiên mình tại Ba-anh-Hát-so gần Ép-ra-im, người mời hết thảy các vương tử. Áp-sa-lôm đến cùng vua mà thưa rằng: Kẻ tôi tớ vua có những thợ hớt lông chiên nơi nhà; vậy, xin vua cùng quần thần của vua đến nhà kẻ tôi tớ vua.
- Lông chiên hớt đầu mùa thuộc về thầy tế lễPhục 18:3–4
Các câu
Phục 18:3–4Vả, nầy là phần định mà những thầy tế lễ sẽ có phép lấy trong các lễ vật của dân sự dâng lên, hoặc bằng bò đực hay là chiên: cái chẻo vai, cái hàm, và cái bụng. Ngươi sẽ cấp cho người của đầu mùa về ngũ cốc, rượu, dầu và lông chiên hớt đầu tiên của ngươi;
- Gióp lấy lông chiên mình sưởi ấm kẻ nghèoGióp 31:20
Các câu
Gióp 31:20Nếu lòng người không chúc phước cho tôi, Và người không nhờ lông chiên tôi mà được ấm áp;
Những bầy chiên tính bằng con số
- Mê-sa, vua Mô-áp, nộp 100.000 chiên con và lông của 100.000 chiên đực2 Vua 3:4
Các câu
2 Vua 3:4Vả, Mê-sa, vua dân Mô-áp, nuôi nhiều bầy chiên, hằng năm người tiến cống cho vua Y-sơ-ra-ên một trăm ngàn chiên con, và trăm ngàn chiên đực chưa hớt lông.
- Người A-rạp dẫn đến cho Giô-sa-phát 7.700 chiên đực và 7.700 dê đực2 Sử 17:11
Các câu
2 Sử 17:11Có dân Phi-li-tin đem dâng cho Giô-sa-phát những lễ vật và bạc cống thuế; người A rạp cũng dẫn đến cho người những bầy súc vật: bảy ngàn bảy trăm con chiên đực, và bảy ngàn bảy trăm con dê đực.
- 250.000 chiên bị bắt của người Ha-ga-rít1 Sử 5:21
Các câu
1 Sử 5:21Chúng bắt được những bầy súc vật của các dân ấy, là năm vạn lạc đà, hai mươi lăm vạn chiên, hai ngàn lừa, và luôn mười vạn người.
- Gióp có 7.000 chiên, về sau 14.000Gióp 1:3, Gióp 42:12
Các câu
Gióp 1:3có bảy ngàn chiên, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái, và tôi tớ rất nhiều; người ấy lớn hơn hết trong cả dân Đông phương.
Gióp 42:12Như vậy, Đức Giê-hô-va ban phước cho buổi già của Gióp nhiều hơn lúc đang thì: người được mười bốn ngàn chiên, sáu ngàn lạc đà, một ngàn đôi bò, và một ngàn lừa cái.
- Kê-đa buôn chiên con, chiên đực và dê đực với Ty-rơÊ-xê 27:21
Các câu
Ê-xê 27:21Người A-rạp và mọi quan trưởng ở Kê-đa buôn bán với mầy, và đem đến cho mầy những chiên con, chiên đực, và dê đực.
- Sa-lô-môn dâng 120.000 chiên trong lễ khánh thành đền thờ1 Vua 8:63
Các câu
1 Vua 8:63Sa-lô-môn dâng của lễ thù ân cho Đức Giê-hô-va, hai muôn hai ngàn con bò đực và mười hai muôn con chiên. Vua và cả dân Y-sơ-ra-ên đều dự lễ khánh thành đền của Đức Giê-hô-va là như vậy.
Trong Luật pháp
- Chiên bị trộm rồi giết hay bán: phải thường bốn conXuất 22:1
Các câu
Xuất 22:1Ví ai bắt trộm bò hay chiên, rồi giết hoặc bán đi, thì phải thường năm con bò cho một con, và bốn con chiên cho một con.
- Chiên bị thú dữ xé: đem xác làm chứngXuất 22:10, Xuất 22:13
Các câu
Xuất 22:10Nhược bằng người nào giao lừa, bò, chiên, hoặc súc vật nào khác cho kẻ lân cận mình giữ và bị chết, gãy một giò hay là bị đuổi đi, không ai thấy,
Xuất 22:13Nếu con vật bị thú rừng xé chết, người lãnh giữ phải đem nó ra làm chứng, sẽ không phải bồi thường vật bị xé đó.
Tại Giê-ru-sa-lem
- Các thầy tế lễ xây lại cửa ChiênNê-hê 3:1
Các câu
Nê-hê 3:1Ê-li-a-síp, thầy tế lễ thượng phẩm, chổi dậy với các anh em mình, là những thầy tế lễ, và xây cất cái cửa Chiên. Chúng biệt nó riêng ra thánh và đặt hai cánh cửa; chúng biệt nó riêng ra thánh cho đến tháp Mê-a và cho đến tháp Ha-na-nê-ên.
- Ao Bê-tết-đa ở gần cửa ChiênGiăng 5:2
Các câu
Giăng 5:2Số là, tại thành Giê-ru-sa-lem, gần cửa Chiên, có một cái ao, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Bê-tết-đa, xung quanh ao có năm cái vòm cửa.
Lời dạy
- Răng “như thể bầy chiên mới hớt lông, từ ao tắm rửa đi lên”Nhã 4:2
Các câu
Nhã 4:2Răng mình như thể bầy chiên mới hớt lông, Từ ao tắm rửa đi lên, Thảy đều sanh đôi, không một con nào son sẻ.
- “Hãy rán biết cảnh trạng bầy chiên con”Châm 27:23
Các câu
Châm 27:23Hãy rán biết cảnh trạng bầy chiên con, Và lo săn sóc các đoàn bò của con;
- “Lông chiên con dùng làm áo xống cho con”Châm 27:26
Các câu
Châm 27:26Lông chiên con dùng làm áo xống cho con, Giá dê đực dùng mua đồng ruộng.
- “như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông”Ê-sai 53:7
Các câu
Ê-sai 53:7Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng.
Nguồn
Theo Nave’s Topical Bible (Orville J. Nave, 1896; phạm vi công cộng): các đề tài được chọn lọc, các dòng được rút gọn và viết lại bằng lời hiện đại, bỏ các dòng giải nghĩa; mỗi câu đều được kiểm tra.
Kinh Thánh (Bản Truyền Thống 1925) · Phạm vi công cộng