Bible Explorer

Khám phá › Chủ đề › Săn bắn và đánh bẫy

Đời sống thường ngày

Săn bắn và đánh bẫy trong Kinh Thánh

14 đoạn của Kinh Thánh (Bản Truyền Thống 1925), từng dòng một, theo Nave’s Topical Bible.

  • Nim-rốt, “một tay thợ săn can đảm trước mặt Đức Giê-hô-va”Sáng 10:9
    Các câu
    Sáng 10:9Người là một tay thợ săn can đảm trước mặt Đức Giê-hô-va. Bởi cớ đó, có tục ngữ rằng: Hệt như Nim-rốt, một tay thợ săn can đảm trước mặt Đức Giê-hô-va!
  • Ích-ma-ên lớn lên trong đồng vắng và có tài bắn cungSáng 21:20
    Các câu
    Sáng 21:20Đức Chúa Trời vùa giúp đứa trẻ; nó lớn lên, ở trong đồng vắng, có tài bắn cung.
  • Ê-sau trở nên một thợ săn giỏi, người của đồng ruộngSáng 25:27
    Các câu
    Sáng 25:27Khi hai đứa trai nầy lớn lên, thì Ê-sau trở nên một thợ săn giỏi, thường giong ruổi nơi đồng ruộng; còn Gia-cốp là người hiền lành cứ ở lại trại.
  • Y-sác ưa ăn thịt rừng nên yêu Ê-sauSáng 25:28
    Các câu
    Sáng 25:28Y-sác yêu Ê-sau, vì người có tánh ưa ăn thịt rừng; nhưng Rê-be-ca lại yêu Gia-cốp.
  • Y-sác sai Ê-sau đem ống tên và cung ra đồng săn thịt rừngSáng 27:3–5
    Các câu
    Sáng 27:3–5vậy bây giờ, cha xin con hãy lấy khí giới, ống tên và cung con, ra đồng săn thịt rừng cho cha, dọn một món ngon tùy theo cha sở thích; rồi dâng lên cho cha ăn, đặng linh hồn cha chúc phước cho con trước khi chết. Vả, đang khi Y-sác nói cùng Ê-sau con trai mình, thì Rê-be-ca có nghe. Ê-sau bèn ra đồng săn thịt rừng đặng đem về cho cha.
  • Ê-sau đi săn về thì đã muộn, không còn được chúc phướcSáng 27:30–33
    Các câu
    Sáng 27:30–33Vừa khi Y-sác chúc phước cho Gia-cốp xong, và vừa khi Gia-cốp lùi ra khỏi nơi cha mình, thì Ê-sau, anh người, đi săn trở về. Người cũng dọn một món ngon, dâng lên cho cha và thưa rằng: Xin dậy, ngồi ăn thịt săn của con trai cha, đặng linh hồn cha chúc phước cho con. Y-sác, cha người, hỏi: Con là đứa nào? Thưa rằng: Tôi là Ê-sau, con trưởng nam của cha. Y-sác lấy làm cảm động quá đỗi mà nói rằng: Vậy, còn đứa nào đã săn thịt rừng, và đã dâng lên cho cha đó? Trước khi con về, cha đã ăn hết rồi, và chúc phước cho nó; nó lại sẽ được ban phước vậy.

Trong Luật pháp

  • Huyết con thú săn được phải đổ ra và lấp bằng bụi đấtLê 17:13
    Các câu
    Lê 17:13Còn nếu ai, hoặc dân Y-sơ-ra-ên. hoặc kẻ khách kiều ngụ giữa họ, đi săn được một con thú hay là con chim ăn thịt được, thì phải đổ huyết nó ra, rồi lấy bụi đất lấp lại;

Bẫy và lưới

  • Lưới, mảnh lưới, bẫy, dò và dây thòng lọng giấu dưới đấtGióp 18:8–10
    Các câu
    Gióp 18:8–10Vì hắn bị chân mình hãm vào cái bẩy, Và đi trên mảnh lưới. Cái bẩy sẽ thắt hắn nơi gót chân, Và dò lưới sẽ bắt nó. Có sợi dây khuất dưới đất, Và cái bẫy ẩn tại trên đường để hãm lấy nó.
  • Con nai mắc trong lướiÊ-sai 51:20
    Các câu
    Ê-sai 51:20Các con trai ngươi đều hao mòn, nằm ngổn ngang nơi ngã ba đường phố, như con nai mắc trong lưới, đầy cơn giận của Đức Giê-hô-va và sự quở trách của Đức Chúa Trời ngươi!
  • Người nhử chim rình rập và gài bẫyGiê 5:26
    Các câu
    Giê 5:26Vì trong vòng dân ta có những kẻ ác; chúng nó hay rình rập, như người nhử chim, gài bẫy giăng lưới, mà bắt người ta.
  • Lưới giương dọc theo đường, và vòng gài đặt sẵnThi 140:5
    Các câu
    Thi 140:5Những kẻ kiêu ngạo đã gài bẫy và trăng dây cho tôi, Giương lưới dọc dài theo đường; Chúng nó cũng đặt vòng gài tôi.

Những so sánh

  • Đa-vít: như người ta đuổi theo chim đa đa trong núi1 Sa 26:20
    Các câu
    1 Sa 26:20Ôi! nguyện huyết tôi chớ chảy ra trên đất cách xa mặt Đức Giê-hô-va; vì vua Y-sơ-ra-ên đã kéo ra đặng tìm một con bọ chét, như người ta đuổi theo chim đa đa trong núi vậy.
  • “Những kẻ vô cớ thù nghịch tôi đã đuổi tôi như đuổi chim”Ca 3:52
    Các câu
    Ca 3:52Những kẻ vô cớ thù nghịch tôi đã đuổi tôi như đuổi chim.
  • Được giải cứu “khỏi bẫy chim”Thi 91:3
    Các câu
    Thi 91:3Ngài sẽ giải cứu ngươi khỏi bẫy chim, Và khỏi dịch lệ độc-hại.

Nguồn

Theo Nave’s Topical Bible (Orville J. Nave, 1896; phạm vi công cộng): các đề tài được chọn lọc, các dòng được rút gọn và viết lại bằng lời hiện đại, bỏ các dòng giải nghĩa; mỗi câu đều được kiểm tra.

Kinh Thánh (Bản Truyền Thống 1925) · Phạm vi công cộng